Định mức hao hụt bê tông không có một tỷ lệ chung cho mọi công trình. Theo bảng định mức sử dụng vật liệu xây dựng hiện hành, bê tông đổ tại chỗ bằng máy bơm có mức hao hụt 1,5%, đổ bằng thủ công hoặc cần cẩu là 2,5%. Các công tác đặc thù như cọc khoan nhồi có mức riêng. Tính trên toàn bộ bảng, các mức dao động từ 1,5% đến 10%, tùy loại công tác và phương pháp thi công.

1. Định mức hao hụt bê tông theo từng phương pháp thi công là bao nhiêu?
Bảng dưới đây được trích theo mục 21.2000 – Định mức hao hụt vữa bê tông, Phụ lục VII ban hành kèm Thông tư 38/2026/TT-BXD. Trong cách gọi của văn bản, “vữa bê tông” là hỗn hợp bê tông dùng cho công tác thi công; không nên hiểu bảng này là bảng tỷ lệ hao hụt riêng của xi măng, cát hoặc đá tại trạm trộn. Thông tư có hiệu lực từ 01/07/2026.
| Mã hiệu | Loại bê tông, phương pháp thi công | Mức hao hụt |
|---|---|---|
| 21.2001 | On-site poured concrete with concrete pump with cranes | 2,5% |
| 21.2002 | On-site poured concrete with concrete pump | 1,5% |
| 21.2003 | Bê tông đổ tại chỗ cọc khoan nhồi vách bằng bentonite | 10,0% |
| 21.2004 | On-site concrete for bored piles with casing | 5,0% |
| 21.2005 | Nhóm công tác ống xiphông, ống phun, ống bụng, ống cống, cầu máng, vòm, miệng phễu đổ tại chỗ bằng thủ công | 5,0% |
| 21.2006 | Precast concrete | 1,5% |
| 21.2007 | Bê tông hầm | 3,0% |
Nguồn: Bộ Xây dựng – Phụ lục VII, Định mức sử dụng vật liệu xây dựng kèm Thông tư 38/2026/TT-BXD, mục 21.2000. [1]

Đổ bê tông thương phẩm bằng bơm, thủ công hoặc cần cẩu
Nếu công trình đổ bê tông tại chỗ bằng máy bơm, dòng cần tra là 21.2002: 1,5%. Nếu đổ bằng thủ công hoặc cần cẩu, tra dòng 21.2001: 2,5%. Việc chọn dòng định mức dựa vào phương pháp thi công của hạng mục, không dựa vào một đặc điểm đơn lẻ như bê tông mác bao nhiêu hay công trình là nhà dân hay nhà xưởng.
Đây là hai mức người đặt bê tông thường cần xem trước. Tuy nhiên, trước khi dùng để dự trù, vẫn phải xác định đúng khối lượng gốc và kiểm tra điều kiện thực tế tại vị trí đổ.
Cọc khoan nhồi, bê tông hầm và các công tác đặc thù
Bảng định mức còn có những dòng dành riêng cho cọc khoan nhồi, bê tông hầm, bê tông đúc sẵn và một số phương pháp đổ đặc thù. Chẳng hạn, cọc khoan nhồi vách bằng bentonite có mức 10%, trong khi cọc khoan nhồi có ống vách là 5%. Hai dòng này không thể thay thế cho nhau và cũng không phải mức hao hụt để áp cho một sàn nhà đổ bằng bơm.
Vì vậy, câu trả lời “hao hụt bê tông từ 1,5% đến 10%” chỉ là khoảng giá trị của các công tác trong bảng. Muốn tính cho một hạng mục, phải tìm đúng dòng mô tả phương pháp thi công của hạng mục đó.
2. Hệ số hao hụt bê tông được hiểu và tính như thế nào?
Tỷ lệ hao hụt được tính theo phần trăm của khối lượng gốc. Khi đưa tỷ lệ đó vào phép tính khối lượng dự kiến, cần phân biệt tỷ lệ phần trăm với hệ số nhân.

Tỷ lệ 1,5% khác hệ số 1,015
Nếu chọn mức hao hụt 1,5%, hệ số nhân trong phép tính cộng hao hụt là 1,015. Với mức 2,5%, hệ số nhân là 1,025.
Công thức dự trù đơn giản là: Khối lượng dự kiến = Khối lượng gốc × (1 + tỷ lệ hao hụt)
Trong đó, tỷ lệ phải đổi về dạng thập phân: 1,5% = 0,015. Nếu khối lượng gốc được tính bằng m³ thì kết quả cũng là m³.
Ví dụ tính lượng bê tông dự kiến
Giả sử một hạng mục đã được kiểm tra và có khối lượng gốc là 100 m³. Phương án thi công là đổ tại chỗ bằng máy bơm; áp mức 1,5% để lập phép tính dự trù: 100 × (1 + 0,015) = 101,5 m³
Như vậy, 101,5 m³ là kết quả của ví dụ tính theo các giả định trên. Đây chưa phải khẳng định rằng mọi công trình có khối lượng thiết kế 100 m³ đều cần đặt đúng 101,5 m³. Nếu cao độ nền, kích thước cốp pha hoặc phạm vi đổ thực tế khác số liệu dùng để tính, lượng cần dùng cũng có thể khác.
Nếu chưa xác định được khối lượng gốc cho móng, dầm, cột hoặc sàn, bạn có thể tham khảo cách để tính khối lượng bê tông cần đổ cho từng cấu kiện trước khi áp tỷ lệ hao hụt.
Có thể ước tính chung một tỷ lệ cho mọi công trình không?
Không nên lấy một tỷ lệ duy nhất cho mọi trường hợp. Ngay trong bảng định mức, phương pháp bơm, thủ công, cọc khoan nhồi và bê tông hầm đã có các mức khác nhau.
Với một công trình cụ thể, trước hết cần xác định đang đổ hạng mục gì, bằng phương pháp nào, sau đó kiểm tra số liệu hiện trường để dự trù khối lượng.
Nói cách khác, mức trong bảng là cơ sở để tính và kiểm soát; còn lượng đặt hàng cần được chốt theo thông tin của lần đổ thực tế.
3. Hao hụt vật liệu, hao hụt bê tông và khối lượng phát sinh khác nhau thế nào?
Khi nói “công trình bị hao hụt bê tông”, nhiều khoản chênh lệch khác bản chất thường bị gộp chung. Việc tách chúng ra giúp dự trù đúng hơn và tránh cộng một khoản hai lần.
| Loại chênh lệch | Xảy ra ở đâu? | Cách hiểu khi dự trù |
|---|---|---|
| Hao hụt vật liệu cấu thành bê tông | Các khâu liên quan đến xi măng, cát, đá, sỏi… | Là nhóm hao hụt của vật liệu đầu vào; không lấy tỷ lệ này cộng trực tiếp vào m³ bê tông thương phẩm đặt mua. |
| Hao hụt hỗn hợp bê tông | Trong quá trình vận chuyển và đổ bê tông vào công trình | Là phạm vi của các tỷ lệ theo phương pháp thi công ở mục 21.2000. |
| Tăng thể tích cần đổ so với dự tính | Cấu kiện, cốp pha, nền hoặc cao độ thực tế khác số liệu ban đầu… | Bê tông có thể đã đi vào công trình; không mặc nhiên gọi toàn bộ phần chênh là bê tông thất thoát. |
Phụ lục VII nêu rõ tỷ lệ hao hụt vữa bê tông trong vận chuyển và đổ đã được tính gộp thành một. Vì thế, khi dùng mức 1,5% cho dòng đổ bằng bơm, không tự cộng thêm một tỷ lệ hao hụt vận chuyển mặc định nữa.
Điểm này cũng quan trọng khi đối chiếu sau thi công: lượng bê tông giao lớn hơn khối lượng tính ban đầu không tự chứng minh toàn bộ phần chênh đã bị rơi vãi hoặc mất đi. Trước khi kết luận, cần kiểm tra lượng thực sự đi vào cấu kiện và những thay đổi được ghi nhận tại hiện trường.
4. Những nguyên nhân nào khiến lượng bê tông sử dụng khác dự kiến?
Một lần đổ bê tông đi qua nhiều khâu. Mỗi khâu có thể tạo ra một loại chênh lệch khác nhau, nên cần xác định nguyên nhân cụ thể thay vì quy tất cả vào “hệ số hao hụt”.

Tại trạm trộn và trước khi xe xuất phát
Quá trình sản xuất bê tông sử dụng các vật liệu như xi măng, cát, đá, nước và phụ gia theo cấp phối. Việc quản lý hao hụt những vật liệu đầu vào là một vấn đề khác với việc dự trù m³ hỗn hợp bê tông cần đổ tại công trường. Phụ lục VII cũng trình bày riêng các nhóm định mức vật liệu và định mức hao hụt vữa bê tông.
Do đó, nếu lượng bê tông sử dụng tại công trường vượt khối lượng trên bản vẽ, không thể chỉ nhìn vào chênh lệch ấy rồi kết luận trạm trộn đã sản xuất thiếu.
Trong vận chuyển và giao nhận
Hỗn hợp bê tông có thể bám vào thiết bị hoặc phát sinh tổn thất khi có sự cố trong quá trình vận chuyển, giao nhận. Khi cần đối chiếu một lần đổ cụ thể, phải xem thông tin giao nhận từng chuyến và ghi nhận tại hiện trường. Một con số tổng cuối ngày thường chưa đủ để chỉ ra chênh lệch phát sinh ở khâu nào.
Về mặt định mức trong bảng, cần nhớ hao hụt khi vận chuyển đã nằm cùng phạm vi với hao hụt khi đổ; không tách ra rồi tự cộng thêm một mức phần trăm khác.
Trong quá trình bơm và đổ
Khi thi công, hỗn hợp có thể còn bám ở phễu hoặc đường ống bơm, rơi vãi trong lúc chuyển vị trí đổ, hoặc rò qua vị trí cốp pha không kín. Mức phát sinh ở một công trình cụ thể phụ thuộc vào cách bố trí thiết bị và điều kiện vận hành; không thể ấn định một lượng bê tông còn trong đường ống giống nhau cho mọi lần bơm.
Việc chuẩn bị vị trí bơm, đường đi của ống, cốp pha và trình tự đổ trước khi xe đến giúp đội thi công nhận diện sớm những điểm có thể gây thất thoát hoặc gián đoạn.
Do kích thước cấu kiện, cốp pha và cao độ nền
Có trường hợp phần bê tông “vượt” dự tính không hề bị mất, mà đã lấp đầy một thể tích thực tế lớn hơn thể tích dùng để tính ban đầu. Chẳng hạn, cốp pha nở làm kích thước cấu kiện thay đổi; hoặc cao độ nền tại khu vực cần đổ thấp hơn số liệu dự kiến.
Đây là lý do phải kiểm tra hiện trạng trước khi đặt hàng. Nếu sau khi đổ phát hiện chênh lệch, nên đối chiếu kích thước và cao độ thực tế trước khi gọi toàn bộ phần tăng thêm là hao hụt thi công. Co ngót của bê tông sau khi đóng rắn cũng không nên dùng làm lời giải thích trực tiếp cho việc thiếu bê tông khi đang đổ.
5. Làm sao dự trù và kiểm soát hao hụt khi đặt bê tông thương phẩm?
Không có một phép nhân phần trăm nào thay thế được việc kiểm tra hiện trường. Để hạn chế thiếu bê tông giữa chừng hoặc đặt dư nhiều, nên theo dõi khối lượng theo từng giai đoạn của lần đổ.

Trước khi đặt: kiểm tra khối lượng và phương pháp đổ
- Tính khối lượng gốc theo từng hạng mục cần đổ, tránh gộp nhiều cấu kiện nhưng bỏ sót phần giao nhau hoặc phần phát sinh.
- Đối chiếu kích thước, cao độ và tình trạng cốp pha, nền tại vị trí thi công.
- Xác định phương pháp đổ thực tế để chọn đúng dòng định mức: xả, thủ công/cần cẩu, bơm hoặc công tác đặc thù.
- Chuẩn bị phương án tiếp cận công trình, vị trí xe và thiết bị bơm nếu có.
Nếu số liệu ban đầu mới là khối lượng bóc từ bản vẽ và hiện trường chưa được kiểm tra, nên xem đó là số liệu dự trù ban đầu, chưa phải lượng đặt cuối cùng.
Trong khi đổ: cập nhật lượng đã giao và lượng còn cần
Theo dõi phiếu giao từng chuyến, hạng mục đang đổ và tiến độ lấp đầy thực tế. Khi gần kết thúc, lượng đặt cho chuyến tiếp theo nên được xem xét trên cơ sở khối lượng đã giao, phần đã đổ và phần còn phải hoàn thành, thay vì chỉ bám vào số dự trù lập trước khi thi công.
Nếu phát hiện cốp pha thay đổi, rò vữa hoặc điều kiện đổ khác kế hoạch, cần ghi nhận ngay để việc điều phối những chuyến sau có cơ sở.
Sau khi đổ: đối chiếu chênh lệch theo nguyên nhân
Có thể bắt đầu đối chiếu từ bốn nhóm thông tin:
- Khối lượng tính toán ban đầu của hạng mục.
- Thay đổi về kích thước, cao độ hoặc phạm vi đổ được ghi nhận tại công trường.
- Tổng khối lượng theo phiếu giao nhận.
- Phần bê tông có ghi nhận rơi vãi, xử lý ngoài cấu kiện hoặc còn tại thiết bị.
Phép đối chiếu này giúp xác định cần kiểm tra khâu nào. Nếu thiếu đo đạc hoặc ghi nhận hiện trường, không nên dùng một tỷ lệ tính ngược từ tổng khối lượng để khẳng định chính xác bê tông hao hụt ở đâu.
6. Khi đặt bê tông cần cung cấp thông tin gì để hạn chế thiếu hoặc dư?
Để hạn chế thiếu bê tông hoặc đặt dư quá nhiều, khi liên hệ nhà cung cấp cần chuẩn bị rõ các thông tin sau:
- khối lượng bê tông tính toán;
- tỷ lệ hao hụt dự kiến hoặc phương pháp thi công;
- mác bê tông;
- độ sụt yêu cầu;
- hạng mục đổ;
- hình thức đổ xả hay bơm;
- vị trí công trình;
- thời gian dự kiến đổ;
- yêu cầu phụ gia nếu có;
- điều kiện mặt bằng, đường vào và vị trí đặt bơm.
7. Liên hệ Dufago để được tư vấn khối lượng bê tông cần đặt
Định mức hao hụt bê tông giúp bạn dự trù khối lượng thực tế tốt hơn, hạn chế thiếu bê tông khi đang đổ và tránh đặt dư quá nhiều gây lãng phí.
Nếu cần đặt bê tông theo khối lượng, mác, độ sụt và điều kiện thi công cụ thể, Dufago có thể tư vấn phương án bê tông thương phẩm Dufago phù hợp cho công trình tại khu vực phục vụ.
8. Câu hỏi thường gặp
Vì sao một số bài cũ ghi tỷ lệ hao hụt cọc khoan nhồi khác bảng trên?
Các bài viết có thể đang dẫn bảng của một thời kỳ hoặc nguồn khác. Khi so sánh, cần kiểm tra tên văn bản, thời điểm áp dụng và đúng phương pháp thi công. Bảng trong bài này dùng mục 21.2000 Phụ lục VII kèm Thông tư 38/2026/TT-BXD: cọc khoan nhồi vách bằng bentonite 10%, cọc khoan nhồi có ống vách 5%.
Đổ bê tông bằng bơm có phải cộng thêm hao hụt vận chuyển không?
Không cộng thêm một tỷ lệ vận chuyển mặc định vào mức 1,5% của dòng đổ bằng máy bơm. Hướng dẫn áp dụng tại mục 21.2000 nêu rằng tỷ lệ hao hụt hỗn hợp bê tông trong vận chuyển và đổ đã được tính gộp. Nếu công trình có tình huống phát sinh riêng, cần ghi nhận và đánh giá tình huống đó theo thực tế, tránh cộng lặp một khoản chỉ vì nó xuất hiện ở một khâu khác.
0402099824
Tầng 4, 76 – 78 Bạch Đằng, phường Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Group 33, Cam Le Ward, Da Nang City
Lô C20, Cụm Công nghiệp Thanh Vinh, phường Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng
Khu Công nghiệp và Hậu cần cảng Tam Hiệp, Xã Núi Thành, TP. Đà Nẵng
Lô CN 08 – KCN Tịnh Phong, Xã Thọ Phong, Tỉnh Quảng Ngãi














