Không có một giá trị độ sụt duy nhất được xem là “đạt” cho tất cả các loại bê tông. Muốn biết kết quả đo có đạt hay không, trước tiên phải biết hỗn hợp bê tông đang được yêu cầu ở mức độ sụt nào, sau đó đối chiếu kết quả thực tế với giá trị và sai lệch cho phép tương ứng.
Ví dụ, nếu đơn đặt hàng hoặc yêu cầu kỹ thuật ghi độ sụt 12±2 cm, điều cần kiểm tra không phải là bê tông có đúng 12 cm tuyệt đối hay không, mà là kết quả đo có nằm trong khoảng được chấp nhận theo yêu cầu đó hay không.
Điều này cũng giải thích vì sao khi kiểm tra bê tông tại công trường, chỉ nhìn một con số độ sụt rồi kết luận bê tông “tốt” hay “không tốt” là chưa đủ.

1. Bảng tra độ sụt bê tông theo hạng mục thi công
Bảng dưới đây giúp hình dung nhanh khoảng độ sụt thường dùng cho một số hạng mục phổ biến. Giá trị thực tế cần được đối chiếu với thiết kế, yêu cầu kỹ thuật và tư vấn của đơn vị cung cấp bê tông.
| Hạng mục thi công | Độ sụt thường dùng | Ghi chú thực tế |
|---|---|---|
| Bê tông lót, nền ít cốt thép | 4–8 cm | Cần đủ dẻo để san phẳng, không nên quá nhão |
| Móng nhà dân | 8–10 cm | Nếu đổ xả trực tiếp, thường không cần độ linh động quá cao |
| Dầm, cột, sàn nhà dân dụng | 10–12 cm hoặc 12±2 cm | Giúp bê tông dễ lấp đầy quanh cốt thép |
| Bê tông bơm | 12±2 cm hoặc 14±2 cm | Tùy chiều cao bơm, đường ống và mật độ thép |
| Cột, vách, cấu kiện nhiều thép | 14±2 cm | Cần độ linh động cao hơn để hạn chế rỗ tổ ong |
| Cọc khoan nhồi, tường vây | 18–22 cm | Cần khả năng chảy và điền đầy tốt |
| Sàn nhà xưởng, sân bãi | 5–9 cm | Dễ san gạt, hạn chế tách nước nếu thi công đúng |
Bảng trên chỉ mang tính tham khảo. Với công trình có yêu cầu đặc biệt, nên thống nhất mác bê tông, độ sụt, phụ gia và phương pháp thi công trước khi đặt bê tông.
2. Độ sụt bê tông bao nhiêu là đạt?
Không có một mức độ sụt “chuẩn” cho mọi công trình
Độ sụt bê tông là chỉ số dùng để mô tả tính công tác của bê tông tươi, tức là mức độ dễ chảy, dễ đổ, dễ bơm và dễ đầm của hỗn hợp bê tông trước khi đông kết. Độ sụt thường được đo bằng dụng cụ nón sụt tại trạm trộn hoặc tại công trình.
Khi kiểm tra, hỗn hợp bê tông được cho vào nón sụt theo quy trình kỹ thuật, sau đó nhấc nón lên và đo mức chênh lệch chiều cao giữa mẫu ban đầu và khối bê tông sau khi sụt xuống. Kết quả thường được tính bằng centimet, ví dụ 10±2 cm, 12±2 cm hoặc 14±2 cm.
TCVN 14586:2025 quy định các yêu cầu đối với hỗn hợp bê tông, bao gồm các đặc trưng về tính công tác và việc đánh giá sự phù hợp tại nơi sử dụng. Tiêu chuẩn này hiện còn hiệu lực và thay thế TCVN 9340:2012.
Do đó, khi xe bê tông đến công trường, người kiểm tra nên đối chiếu tối thiểu ba thông tin:
- – Yêu cầu độ sụt của hỗn hợp bê tông.
- – Kết quả thử thực tế tại thời điểm kiểm tra.
- – Sai lệch cho phép tương ứng.
Chỉ khi đặt ba thông tin này cạnh nhau mới có cơ sở đánh giá chỉ tiêu độ sụt có phù hợp hay không.
Cách hiểu nhanh độ sụt 10±2, 12±2, 14±2, 16±2
Ký hiệu 10±2 cm, 12±2 cm hoặc 14±2 cm thể hiện khoảng độ sụt mục tiêu và sai số cho phép khi kiểm tra bê tông tươi. Dấu “±2” có nghĩa là kết quả thực tế có thể dao động trong phạm vi cộng hoặc trừ 2 cm so với mức đặt hàng.
| Ký hiệu độ sụt | Khoảng chấp nhận | Thường gặp trong trường hợp |
|---|---|---|
| 10±2 cm | 8–12 cm | Móng, sàn, cấu kiện thông thường |
| 12±2 cm | 10–14 cm | Bê tông bơm, dầm, sàn, cột nhà dân dụng |
| 14±2 cm | 12–16 cm | Cấu kiện nhiều thép, vị trí khó đầm |
| 16±2 cm | 14–18 cm | Kết cấu cần độ linh động cao hơn |
| 18–22 cm | Theo yêu cầu thiết kế | Cọc khoan nhồi, tường vây, bê tông linh động cao |

Không nên hiểu rằng độ sụt càng cao thì bê tông càng tốt. Độ sụt chỉ tốt khi phù hợp với hạng mục thi công và cấp phối thiết kế. Nếu bê tông bị làm nhão sai cách, nguy cơ tách nước và phân tầng sẽ tăng lên.
3. Cách tính độ sụt bê tông
Thiết bị đo độ sụt bê tông
Để kiểm tra độ sụt bê tông tươi, người ta thường dùng bộ côn thử độ sụt bê tông. Đây là thiết bị chuyên dụng gồm côn Abrams (nón sụt), que đầm thép Φ16 dài 600mm, tấm đế phẳng không thấm nước, bay trát và thước đo độ sụt.

Công thức tính độ sụt
Công thức: SN = H0 − H1
Trong đó:
– SN: Độ sụt của bê tông (cm).
– H0: Chiều cao ban đầu của côn Abrams (luôn là 30.5 cm).
– H1: Chiều cao của mẫu bê tông sau khi côn được nhấc lên (cm).
Ví dụ: Nếu sau khi nhấc côn, chiều cao của khối bê tông còn lại là 20.5 cm, thì độ sụt sẽ là: 30.5−20.5=10 cm.

Căn cứ vào độ sụt, bê tông có thể được chia thành ba loại:
- – Bê tông cứng: SN < 5 cm
- – Bê tông dẻo: SN từ 5 – 9 cm
- – Bê tông siêu dẻo (hoặc tự chảy): SN từ 10 – 22 cm
4. Cách kiểm tra độ sụt bê tông tại công trường
Phép thử độ sụt nhìn qua khá đơn giản, nhưng kết quả chỉ có ý nghĩa khi mẫu được lấy đúng và các thao tác được thực hiện theo cùng một phương pháp.
TCVN 3106:2022 [2] quy định khá cụ thể từ loại côn, cách nạp hỗn hợp, số lần đầm đến thời gian nhấc côn và cách xử lý khi mẫu bị sạt hoặc vỡ.

Bước 1: Chuẩn bị:
TCVN 3106:2022 quy định hai loại côn thử độ sụt:
| Loại côn | Đường kính đỉnh | Đường kính đáy | Chiều cao |
|---|---|---|---|
| N1 | 100±2 mm | 200±2 mm | 300±2 mm |
| N2 | 150±2 mm | 300±2 mm | 450±2 mm |
Côn N1 dùng với hỗn hợp có kích thước hạt danh nghĩa lớn nhất của cốt liệu không quá 40 mm. Côn N2 dùng khi kích thước này lớn hơn 40 mm.
Ngoài côn, bộ dụng cụ còn cần tấm nền cứng, phẳng và không thấm nước; phễu; thanh đầm; bay; đồng hồ và thước đo phù hợp.
- – Làm sạch hoàn toàn bộ côn thử độ sụt bt và mâm phẳng.
- – Làm ẩm bên trong côn và bề mặt mâm để tránh bê tông bám dính.
- – Đặt côn Abrams lên giữa mâm phẳng và giữ chặt bằng chân hoặc kẹp để côn không bị dịch chuyển trong quá trình đổ và đầm.

Bước 2: Đổ bê tông vào côn và đầm mẫu:
Đây là bước dễ bị làm theo “thói quen” nhất, trong khi TCVN 3106:2022 có cách thực hiện khác nhau tùy mức độ sụt.
Với hỗn hợp có độ sụt nhỏ hơn 160 mm:
- – cho hỗn hợp vào côn thành 3 lớp;
- – mỗi lớp chiếm khoảng 1/3 chiều cao côn;
- – dùng côn N1: chọc 25 lần/lớp;
- – dùng côn N2: chọc 56 lần/lớp.
Với hỗn hợp có độ sụt từ 160 đến 220 mm:
- – hỗn hợp được cho vào côn một lần;
- – dùng côn N1: chọc 10 lần;
- – dùng côn N2: chọc 20 lần.
Như vậy, cách truyền miệng “thử độ sụt là đổ ba lớp rồi chọc 25 lần mỗi lớp” chỉ đúng với một trường hợp cụ thể khi dùng côn N1 và hỗn hợp có độ sụt dưới 160 mm.
Bước 4: Nhấc côn đúng cách:
Sau khi làm chặt hỗn hợp, phần bê tông thừa được gạt phẳng tại miệng côn và khu vực xung quanh đáy côn được làm sạch.
Tiếp theo, côn phải được nhấc từ từ theo phương thẳng đứng trong khoảng 5–10 giây.
Động tác này cần làm đều và thẳng. Nếu kéo lệch, xoay hoặc làm rung côn quá mức, hình dạng khối bê tông sau khi tháo côn có thể bị ảnh hưởng và làm sai ý nghĩa của phép thử.
TCVN 3106:2022 còn yêu cầu quá trình thử từ lúc bắt đầu cho hỗn hợp vào côn đến lúc nhấc côn không quá 3 phút; tổng thời gian các lượt xác định độ sụt cho cùng một mẫu không quá 10 phút.
Bước 5: Đo độ sụt và ghi kết quả:
Đặt thước đo (hoặc que đầm) nằm ngang trên miệng côn vừa nhấc ra, và song song với đáy côn.
Đo độ sụt bằng cách đo khoảng cách từ điểm giữa của thước ngang tới điểm cao nhất của khối bê tông đã sụt. Đây chính là giá trị độ sụt SN.
Thực hiện phép đo này nhanh chóng trong vòng 1 phút kể từ khi nhấc côn.
Lưu ý: Nếu bê tông bị sụt không đều, hoặc một phần của mẫu bị tách rời, thí nghiệm cần được thực hiện lại.
5. Bảng phân loại độ sụt bê tông theo TCVN 14586:2025
Theo TCVN 14586:2025 – Hỗn hợp bê tông – Yêu cầu kỹ thuật [1], hỗn hợp bê tông được phân loại theo độ sụt từ S1 đến S5. Tiêu chuẩn này hiện còn hiệu lực và đã thay thế TCVN 9340:2012.
| Mác hỗn hợp bê tông theo độ sụt | Độ sụt | Sai lệch cho phép |
|---|---|---|
| S1 | 10–40 mm | ±10 mm |
| S2 | 50–90 mm | ±20 mm |
| S3 | 100–150 mm | ±20 mm |
| S4 | 160–200 mm | ±30 mm |
| S5 | Lớn hơn 200 mm | ±30 mm |
Theo tiêu chuẩn, các cấp S1, S2, S3, S4 và S5 dùng để phân loại hỗn hợp bê tông theo mức độ sụt. Sai lệch cho phép tại nơi sử dụng cũng thay đổi theo từng nhóm: S1 là ±10 mm; S2 và S3 là ±20 mm; S4 và S5 là ±30 mm.
Cần lưu ý rằng bảng trên là bảng phân loại độ sụt, không phải bảng quy định một hạng mục xây dựng bắt buộc phải sử dụng một cấp độ sụt nhất định. Khi đánh giá bê tông tại công trường, vẫn phải đối chiếu với yêu cầu độ sụt của hỗn hợp bê tông, hồ sơ kỹ thuật hoặc thông tin đặt hàng đã được thống nhất trước đó.
Ví dụ, hai hỗn hợp cùng thuộc nhóm S3 chưa chắc được đặt với cùng một giá trị độ sụt cụ thể. Tương tự, không nên hiểu rằng S4 hoặc S5 “tốt hơn” S2 hay S3 chỉ vì giá trị độ sụt cao hơn. Mỗi mức độ sụt phục vụ yêu cầu về tính công tác và điều kiện thi công khác nhau.
6. Bê tông M200, M250, M300 có độ sụt cố định không?
Không nên hiểu rằng bê tông M200, M250 hay M300 sẽ mặc định tương ứng với một giá trị độ sụt cố định.
Đây là hai nhóm thông số phục vụ hai mục đích khác nhau.
Mác/cường độ và độ sụt là hai thông số khác nhau
Có thể hiểu đơn giản:
- – Mác hoặc cấp cường độ liên quan đến khả năng chịu lực của bê tông sau khi đóng rắn.
- – Độ sụt mô tả trạng thái của hỗn hợp bê tông khi còn tươi và phục vụ việc đánh giá tính công tác.
Vì vậy, không nên áp một công thức kiểu: “M250 thì phải sụt 12 cm”, hoặc “M300 thì phải sụt 14 cm”.
Hai xe bê tông cùng là M250 vẫn có thể được đặt với yêu cầu độ sụt khác nhau nếu điều kiện và phương pháp thi công khác nhau.
Ngược lại, hai hỗn hợp có cùng độ sụt 12 cm cũng không có nghĩa chúng có cùng mác hoặc cùng cường độ thiết kế.
Vì sao cùng một mác có thể yêu cầu độ sụt khác nhau?
Khi lựa chọn độ sụt cho commercial concrete, ngoài yêu cầu về cường độ còn phải xét cách hỗn hợp được đưa vào kết cấu và khả năng thi công thực tế.
Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến yêu cầu tính công tác gồm:
- – phương pháp đổ bê tông;
- – sử dụng bơm hay phương thức cấp bê tông khác;
- – hình dạng cấu kiện;
- – mật độ và bố trí cốt thép;
- – khả năng tiếp cận vị trí đổ;
- – thiết kế thành phần hỗn hợp;
- – các yêu cầu kỹ thuật riêng của công trình.
Vì vậy, với câu hỏi “bê tông M250 độ sụt bao nhiêu?”, chỉ biết mác M250 vẫn chưa đủ để đưa ra một con số chính xác cho mọi trường hợp.
7. Những lưu ý quan trọng khi đo đột sụt bê tông
Khi tiến hành rút côn, có ba trường hợp chính có thể xảy ra, mỗi trường hợp yêu cầu cách xử lý riêng để đảm bảo chất lượng:
Trường hợp 1: Bê tông giữ nguyên hình dạng
Sau khi rút côn, khối bê tông vẫn giữ được hình dạng ban đầu và chỉ sụt xuống một khoảng nhất định.
Đánh giá đây là trường hợp bê tông đạt yêu cầu, cho thấy các cốt liệu bê tông đã được liên kết chặt chẽ. Vậy tiến hành đo độ sụt, nếu đúng thì cho phép đổ bê tông như bình thường.
Trường hợp 2: Hiện tượng “gãy côn”
Có thể thấy bằng mắt thường khi khối bê tông bị đổ sập hoặc biến dạng rõ rệt sau khi rút côn.
Khi gặp hiện tượng này thi không cần đo độ sụt. Rút lại côn và thử lại một lần nữa. Nếu vẫn không đạt, xe bê tông cần được cho về.
Trường hợp 3: Hiện tượng “bể côn”
Khối bê tông bị vỡ vụn, không giữ được hình dạng sau khi rút côn.
Tương tự như trường hợp gãy côn, không cần đo độ sụt. Rút lại côn và thử lại một lần nữa. Nếu vẫn không đạt, xe bê tông cần được cho về.

8. Những lỗi thường làm kết quả thử độ sụt sai
Phép thử không phức tạp về dụng cụ nhưng lại khá nhạy với thao tác. Một số lỗi thường gặp có thể làm con số cuối cùng không còn đại diện đúng cho hỗn hợp:
| Lỗi thao tác | Ảnh hưởng |
|---|---|
| Lấy mẫu không đại diện | Kết quả chỉ phản ánh phần bê tông được lấy, không phản ánh đúng hỗn hợp cần kiểm tra |
| Để mẫu mất nước hoặc chờ quá lâu | Tính chất hỗn hợp có thể thay đổi trước khi thử |
| Côn đặt trên nền không phẳng hoặc không ổn định | Khối bê tông có thể biến dạng lệch khi tháo côn |
| Cho mẫu vào côn hoặc đầm sai quy định | Mức độ làm chặt không đồng nhất, làm sai kết quả |
| Rút côn nghiêng, xoay hoặc quá chậm | Làm khối bê tông bị biến dạng ngoài tác động tự nhiên của hỗn hợp |
| Mẫu đã sạt/vỡ nhưng vẫn lấy số đo | Con số không đại diện cho một phép thử hợp lệ |
| Đo sai điểm cao nhất của mẫu | Giá trị độ sụt bị sai ngay ở bước đọc kết quả |
9. Khi nào không nên dùng phép thử độ sụt thông thường?
Một trường hợp rất dễ nhầm là bê tông tự lèn.
TCVN 3106:2022 quy định phương pháp thử độ sụt cho hỗn hợp bê tông dẻo thông thường, bê tông hạt nhỏ và bê tông nhẹ, nhưng không áp dụng phương pháp này cho bê tông tự lèn, cũng như một số hỗn hợp đặc biệt khác như bê tông hốc rỗng, bê tông tổ ong và bê tông polystyren.
Vì vậy, không nên đưa bê tông tự lèn vào một bảng rồi mô tả đơn giản là: “Bê tông tự lèn có độ sụt trên 16 cm.”
Bê tông tự lèn có đặc tính chảy và phương pháp đánh giá riêng. Nếu dùng phép thử không phù hợp rồi so con số với bê tông dẻo thông thường, kết luận có thể không phản ánh đúng tính công tác của hỗn hợp.
10. Câu hỏi thường gặp về độ sụt bê tông
Độ sụt bê tông có quyết định cường độ bê tông không?
Không. Độ sụt là chỉ tiêu liên quan đến tính công tác của hỗn hợp bê tông tươi, trong khi cường độ được đánh giá trên bê tông sau khi đóng rắn theo các phương pháp thử tương ứng.
Do đó, một mẫu có độ sụt đúng yêu cầu không đồng nghĩa có thể bỏ qua việc lấy mẫu và kiểm tra cường độ.
Độ sụt có thay đổi trong quá trình vận chuyển không?
Tính chất của hỗn hợp bê tông tươi có thể thay đổi theo thời gian và các điều kiện từ khi sản xuất đến khi sử dụng. Đây cũng là lý do việc lấy mẫu phải xác định rõ vị trí, mục đích và thời điểm kiểm tra.
TCVN 3105:2022 có các yêu cầu cụ thể về thời gian lấy mẫu, bảo quản mẫu tránh mất nước và thời điểm bắt đầu thử sau khi lấy mẫu.
Vì vậy, khi so sánh các kết quả độ sụt, cần biết chúng được đo ở đâu và vào thời điểm nào, thay vì chỉ đặt hai con số cạnh nhau.
Có được tự thêm nước khi bê tông có độ sụt thấp không?
Không nên tự ý thêm nước chỉ vì kết quả độ sụt thấp hơn mong muốn.
Trước tiên cần xác nhận yêu cầu độ sụt, kiểm tra độ tin cậy của phép thử và thực hiện bước xử lý theo quy trình kỹ thuật của công trình. Nếu hỗn hợp cần điều chỉnh, việc điều chỉnh phải được thực hiện theo quy trình được chấp thuận và dưới sự kiểm soát của người có trách nhiệm kỹ thuật.
Nếu đang chuẩn bị đặt bê tông, việc xác định trước mác/cấp độ bền, độ sụt, khối lượng, hạng mục cần đổ, thời gian thi công và phương án bơm sẽ giúp thông tin kỹ thuật giữa công trường và đơn vị cung cấp được thống nhất ngay từ đầu.
Sau khi xác định các thông số này, có thể tham khảo báo giá bê tông tươi Dufago để tiếp tục đối chiếu mác bê tông, yêu cầu thi công và chi phí tại thời điểm đặt hàng.
0402099824
Tầng 4, 76 – 78 Bạch Đằng, phường Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Group 33, Cam Le Ward, Da Nang City
Lô C20, Cụm Công nghiệp Thanh Vinh, phường Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng
Khu Công nghiệp và Hậu cần cảng Tam Hiệp, Xã Núi Thành, TP. Đà Nẵng
Lô CN 08 – KCN Tịnh Phong, Xã Thọ Phong, Tỉnh Quảng Ngãi














