Móng là phần duy nhất của ngôi nhà đổ xong là chôn luôn: rỗ, nứt hay thiếu mác thì gần như không sửa lại được. Phần lớn lỗi ở móng nhà dân không nằm ở bản vẽ mà ở buổi đổ: đặt sai độ sụt, xe đến đứt quãng, thêm nước cho dễ đổ, bảo dưỡng qua loa. Bài này đi lần lượt từ trước ngày đổ tới lúc tháo cốp pha, để bạn tự giám sát được và đặt đúng mác, đúng số khối, đúng loại xe bơm cho móng nhà mình.
Đổ móng bằng bê tông tươi gồm ba chặng. Trước ngày đổ: dọn hố móng, đổ lớp bê tông lót, dựng cốp pha, buộc thép, nghiệm thu, rồi đặt bê tông và bơm. Trong buổi đổ: kiểm phiếu giao hàng, đo độ sụt, lấy mẫu, đổ từng lớp và đầm kỹ, không ngừng giữa chừng. Sau khi đổ: giữ ẩm cho móng ít nhất 2–4 ngày đêm tùy mùa (ở miền Trung), tháo cốp pha thành khi bê tông đã cứng, kiểm lỗi trên mặt móng.
Loại móng, kích thước móng, mác bê tông và cách bố trí thép là việc của kỹ sư thiết kế, dựa trên bản vẽ và địa chất. Những phần dưới đây chỉ nói về việc tổ chức buổi đổ.

Tóm tắt các bước đổ móng
| Chặng | Việc chính | Ai làm / ai kiểm |
|---|---|---|
| Vài ngày trước | Đào hố, dọn đáy, đổ bê tông lót; tính khối lượng; xem đường vào cho xe bồn, chọn đổ xả hay bơm; đặt lịch với trạm bê tông | Chủ nhà, thầu, kỹ sư giám sát |
| Trước 1 ngày | Nghiệm thu cốp pha và cốt thép; chốt giờ đổ, số khối, mác, độ sụt, loại bơm với trạm | Kỹ sư giám sát; thầu |
| Ngày đổ | Tưới ẩm cốp pha và lớp lót; kiểm phiếu giao hàng từng xe; đo độ sụt; lấy mẫu; đổ từng lớp, đầm dùi; không thêm nước | Thầu, giám sát, chủ nhà |
| Những ngày sau | Giữ ẩm bề mặt; tháo cốp pha thành; kiểm rỗ, nứt; chờ kỹ sư cho đổ cổ cột, giằng móng, lấp đất | Thầu, kỹ sư giám sát |
Móng đơn, móng băng, móng bè khác nhau thế nào khi đổ
Ba loại móng khác nhau nhiều nhất ở khối lượng và cách đưa bê tông xuống. Móng đơn ít khối, nằm rải rác; móng băng chạy thành tuyến dài; móng bè là một tấm lớn, nhiều khối nhất và gần như bắt buộc phải đổ liên tục.
| Tiêu chí | Móng đơn | Móng băng | Móng bè |
|---|---|---|---|
| Hình dạng | Từng khối riêng dưới chân cột | Dải chạy dọc theo trục tường, cột | Một tấm phủ gần hết diện tích nhà |
| Khối lượng | Ít, chia nhỏ nhiều hố | Trung bình, tập trung theo tuyến | Lớn nhất |
| Đổ theo cách nào | Đổ xong từng hố, đầm xong hố này mới sang hố khác | Đổ chạy theo tuyến, từng lớp, nối tiếp không để đoạn đã đổ kịp se mặt | Chia dải, đổ từng lớp phủ kín cả tấm, liên tục từ đầu đến cuối |
| Đổ xả từ máng xe hay cần bơm | Xả máng được nếu xe đứng sát các hố; hố xa thì cần bơm | Xe chạy dọc tuyến thì xả máng được; nhà phố, hẻm thường cần bơm | Thường cần bơm để rải đều và giữ nhịp đổ |
| Mạch ngừng | Hầu như không cần | Nếu buộc phải dừng: đặt chỗ kỹ sư chỉ định, tránh chân cột và chỗ giao nhau | Hạn chế tối đa; nếu cần phải có trong phương án thi công từ trước |
Việc chọn loại móng cho nhà của bạn không nằm trong bảng này. Nhà 2 tầng hay 3 tầng, đất tốt hay đất yếu đều có thể dùng loại móng khác nhau; bản vẽ kết cấu quyết điều đó.
Trước ngày đổ: kiểm tra hố móng, cốp pha, cốt thép
Đây là chặng quyết định móng có rỗ, có lộ thép hay không. Bê tông tốt đến đâu cũng không cứu được cốp pha hở hay thép nằm sát đất.

Hố móng
- Đáy hố là đất cứng, đúng cao độ bản vẽ. Không đổ lên lớp bùn, đất rời hay đất đắp chưa đầm.
- Hút hết nước đọng. Dọn rác, gỗ vụn, bao xi măng.
- Đổ lớp bê tông lót trước (xem mục dưới). Theo TCVN 4453, bê tông móng chỉ được đổ lên lớp đệm sạch trên nền đất cứng [1].
Cốp pha
- Kín khít, không có khe hở để nước xi măng chảy ra. Mất nước xi măng là nguyên nhân thường gặp gây rỗ chân móng.
- Chống chắc, không phình khi đổ và đầm. Móng băng dài cần nhiều cây chống hơn bạn nghĩ.
- Đúng vị trí: tim trục móng lệch so với bản vẽ không quá 15 mm [1].
Cốt thép
- Đúng số thanh, đường kính, khoảng cách theo bản vẽ; mối nối và chỗ neo đúng chiều dài.
- Có con kê bê tông dưới lưới thép đáy và hai bên thành, đủ dày để thép không nằm sát lớp lót hay sát cốp pha. Khi móng có lớp bê tông lót, lớp bê tông bảo vệ thép móng tối thiểu là 40 mm theo TCVN 5574:2018 [2]. Móng không có lớp lót thì lớp bảo vệ phải dày hơn nhiều, thường 70 mm. Bản vẽ ghi số lớn hơn thì theo bản vẽ.
- Thép sạch bùn đất, không gỉ bong vảy. Chừa sẵn thép chờ cổ cột đúng vị trí.
Nghiệm thu
- Kỹ sư giám sát kiểm hố móng, cốp pha, cốt thép và ký biên bản nghiệm thu trước khi gọi xe bê tông.
- Sai lầm hay gặp: đặt xe trước, nghiệm thu sau. Khi xe đã tới mà phát hiện thiếu thép hay cốp pha hở, bạn sẽ phải chọn giữa đổ ẩu và bỏ mẻ bê tông.
Chọn bê tông cho móng: lớp lót, mác, độ sụt
Ba thứ cần chốt trước khi gọi trạm: có đổ lớp lót không, móng dùng mác nào, và độ sụt bao nhiêu cho cách đổ của nhà mình.
Bê tông lót móng: có cần không, mác và dày bao nhiêu

Bê tông lót là lớp bê tông mác thấp đổ dưới đáy hố, trước khi đặt thép. Lớp này nên có: nó tạo mặt phẳng sạch để kê thép đúng lớp bảo vệ, không cho đất bùn trộn vào bê tông móng và không để đất hút mất nước xi măng.
Ở nhà dân, lớp lót thường dùng bê tông mác 100, đá 4×6 hoặc 1×2, dày khoảng 5–10 cm. Số chính xác lấy theo bản vẽ.
Lớp lót không phải để chịu lực, nên không cần mác cao. Nhưng phải đổ phẳng, đủ dày, phủ kín đáy hố và rộng hơn đáy móng một chút để dựng cốp pha.
Móng dùng mác bao nhiêu
Nhà ở 3–4 tầng thường dùng mác 250 (tương đương cấp độ bền B20). Đất nền yếu, có tầng hầm hoặc cần chống thấm tốt hơn thì thường chọn mác 300. Mác ghi trên bản vẽ là trên hết; khi đặt bê tông, báo đúng mác đó. So sánh chi tiết ở bài chọn mác 250 hay mác 300 cho móng, sàn.
Chọn độ sụt thế nào

Độ sụt là độ chảy dẻo của bê tông, đo bằng côn tại công trường [3]. Đổ bằng bơm cần độ sụt cao hơn đổ xả máng, vì bê tông phải đi qua đường ống.
Với móng nhà dân đổ xả máng, độ sụt thường dùng khoảng 8–10 cm; đổ bằng bơm thường khoảng 12 ± 2 cm, có khi 14 ± 2 cm tùy chiều cao bơm, chiều dài ống và độ dày thép. Bản vẽ có ghi độ sụt thì theo bản vẽ, và báo trạm ngay khi đặt. Bảng tra và cách đo có ở bài độ sụt bê tông bao nhiêu là đạt.
Đặt bê tông tươi và xe bơm cho móng
Đặt đúng khối, đúng loại bơm và báo đủ thông tin thì buổi đổ mới liền mạch, không thiếu xe giữa chừng.
Cần bao nhiêu khối và bao nhiêu chuyến xe
Tính khối theo kích thước trên bản vẽ: mỗi phần móng là một khối hộp, lấy dài × rộng × cao rồi cộng lại. Từ tổng khối, chia cho số khối mỗi xe chở để biết số chuyến, rồi hẹn trạm giãn cách các xe sao cho xe sau tới trước khi xe trước đổ xong.
Ví dụ (giả định): nhà phố, móng băng có tổng chiều dài các dải là 75 m.
- Bản móng rộng 0,8 m, dày 0,3 m: 75 × 0,8 × 0,3 = 18 m³.
- Dầm móng phía trên rộng 0,3 m, cao 0,5 m: 75 × 0,3 × 0,5 = 11,25 m³.
- Tổng khoảng 29,3 m³. Giả sử mỗi xe chở 7 m³ thì cần 5 chuyến: 4 chuyến đầy (28 m³) và chuyến cuối mang phần còn lại.
Kinh nghiệm khi đặt:
- Đáy hố thực tế ít khi phẳng như bản vẽ, nên đặt hơi dư so với số tính, và chốt với trạm khối lượng chuyến cuối khi các chuyến đầu đã đổ xong. Như vậy vừa không thiếu, vừa không dư nhiều.
- Báo trạm muốn mỗi xe cách nhau bao lâu. Móng băng, móng bè mà đứt xe giữa chừng là dễ thành mạch ngừng ngoài ý muốn.
Công thức cho móng có vát, móng cốc và cách tính cho từng cấu kiện ở bài cách tính khối lượng bê tông tươi.
Khi nào cần xe bơm: bơm cần hay bơm ngang

Câu hỏi đầu tiên là xe bồn đứng được ở đâu. Nếu xe đứng sát mép hố móng, bê tông xả thẳng từ máng xe xuống được thì không cần bơm. Máng xe chỉ với được một đoạn ngắn; hố móng ở xa hơn, ở giữa lô đất hay phía sau nhà thì phải bơm.
| Tình huống | Cách đổ thường hợp lý |
|---|---|
| Xe bồn vào sát hố móng, móng đơn hoặc móng băng ít khối | Đổ xả máng |
| Mặt tiền đủ rộng cho xe bơm dựng chân, không vướng dây điện, cây, mái nhà bên cạnh | Bơm cần: xe đứng ngoài đường, vươn cần qua rải bê tông tới từng vị trí |
| Hẻm nhỏ, xe bồn chỉ đứng được ở đầu hẻm; có mái che, dây điện chằng chịt | Bơm ngang (còn gọi là bơm tĩnh): đặt máy bơm gần xe bồn, đi ống dọc theo hẻm tới hố móng |
| Móng bè hoặc móng băng nhiều khối | Thường nên bơm để giữ nhịp đổ đều, không để đoạn đã đổ kịp se mặt |
Khi nhờ trạm tư vấn loại bơm, gửi các thông tin: độ rộng đường hoặc hẻm, khoảng cách từ chỗ xe đứng được tới hố móng xa nhất, có dây điện hay mái che phía trên không, tổng khối lượng. Ảnh chụp mặt tiền và lối vào giúp trạm trả lời nhanh và đúng hơn.
Tìm hiểu thêm về xe bơm bê tông cần và xe bơm ngang cho ngõ hẹp.
Cần báo trạm những gì khi đặt bê tông
Gọi trạm sớm, ít nhất vài ngày trước ngày đổ, và báo đủ những thông tin sau để được giao đúng mẻ:
- Vị trí công trình (địa chỉ, gửi định vị nếu được).
- Loại móng: móng đơn, móng băng hay móng bè.
- Khối lượng (hoặc gửi kích thước móng để trạm tính cùng).
- Mác theo bản vẽ, ví dụ mác 250.
- Độ sụt theo cách đổ: đổ xả hay đổ bơm.
- Ngày giờ đổ, và mong muốn giãn cách giữa các xe.
- Có cần bơm không, bơm cần hay bơm ngang.
- Đường vào cho xe: độ rộng đường, hẻm, giờ cấm tải (nếu có), chỗ xe đứng được.
Công trình ở Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ) hoặc Quảng Ngãi: gửi các thông tin trên cho Dufago qua hotline 0915 737 973 để được báo giá bê tông, tư vấn loại bơm và lên lịch xe.
Xem thêm20+ câu hỏi thường gặp khi đặt bê tông tươi – chuyên gia DUFAGO giải đáp→Trong buổi đổ móng
Những việc dưới đây quyết định móng có chắc, có rỗ hay không, nên chủ nhà nên có mặt hoặc cử người tin cậy theo dõi.
Khi xe tới: kiểm phiếu, đo độ sụt, lấy mẫu
Mỗi xe tới, trước khi cho xả, kiểm ba việc.
Phiếu giao hàng. Đối chiếu mác, số khối, biển số xe và giờ xuất trạm với đơn đã đặt. Giờ xuất trạm cho bạn biết mẻ đã đi bao lâu. Bê tông tươi thường có phụ gia để giữ độ sụt lâu hơn, nên hỏi trạm mẻ được phép đổ trong bao lâu kể từ giờ xuất. Với bê tông không có phụ gia, TCVN 4453 chỉ cho lưu khoảng 30 phút khi trời trên 30 °C và 45 phút khi 20–30 °C [1]. Vì vậy đường vào phải thông và người phải sẵn sàng trước khi xe tới.

Độ sụt. Lấy bê tông ở đầu máng, đo bằng côn ngay tại chỗ. Độ sụt lệch xa so với số đã đặt thì báo trạm trước khi đổ, không tự xử lý bằng cách thêm nước.
Lấy mẫu. Đúc mẫu lập phương để nén kiểm tra cường độ sau 28 ngày; mỗi tổ mẫu gồm 3 viên. Mỗi đợt đổ móng nên lấy ít nhất một tổ, kể cả khi khối lượng nhỏ. Mốc “cứ 100 m³ lấy một tổ” dành cho móng lớn, trên 100 m³ [4]. Móng nhà ở thường vài chục khối, có thể cần một hoặc hai tổ tùy khối lượng và yêu cầu nghiệm thu; số tổ cụ thể do kỹ sư giám sát quyết, nên hỏi trước ngày đổ. Cách lấy, ghi nhãn và bảo dưỡng mẫu ở bài tiêu chuẩn lấy mẫu bê tông; các cách kiểm nhanh khác ở bài kiểm tra chất lượng bê tông tươi tại công trường.
Đổ và đầm móng thế nào cho khỏi rỗ

Trước khi đổ: tưới ẩm cốp pha và lớp lót cho thấm, nhưng không để nước đọng dưới đáy.
Chiều cao rơi: bê tông rơi tự do không quá 1,5 m (theo TCVN 4453) [1]. Rơi cao hơn, đá và vữa tách nhau ra, đá dồn xuống đáy thành ổ rỗ. Móng sâu hoặc cổ móng cao thì hạ vòi bơm sát xuống, hoặc dùng máng, ống dẫn.
Đổ từng lớp: rải mỗi lớp dày khoảng 30 cm, không đổ một đống cao rồi dùng đầm kéo bê tông đi. Đầm dùi dùng để làm chặt, không phải để san bê tông ngang.
Đầm dùi:
- Cắm đầm thẳng đứng, ngập qua lớp đang đổ và xuống lớp bên dưới khoảng 10 cm để hai lớp liền nhau.
- Các điểm cắm cách nhau không quá 1,5 lần bán kính tác dụng của đầm, đi theo hàng để không bỏ sót.
- Đầm đến khi mặt bê tông nổi vữa xi măng và không còn bọt khí; thường khoảng 20–40 giây mỗi điểm. Đầm quá lâu một chỗ làm đá chìm, vữa nổi.
- Không chọc đầm vào cốt thép hay cốp pha. Góc móng, chân dầm móng, chỗ thép dày là nơi hay rỗ nhất: đầm kỹ và gõ nhẹ cốp pha bên ngoài.
Theo từng loại móng:
- Móng đơn: đổ và đầm xong trọn một hố rồi mới chuyển hố. Đổ phần đế trước, rồi tới cổ móng.
- Móng băng: đổ chạy theo tuyến, từng lớp. Lớp sau phải phủ lên lớp trước khi lớp trước còn dẻo, nên đoạn đổ đừng kéo quá dài so với nhịp xe tới.
- Móng bè: chia mặt bằng thành từng dải, đổ từng lớp phủ kín cả tấm theo một hướng, giữ nhịp liên tục. Cần đủ người đầm và dự phòng một đầm dùi.
Trong lúc đổ, cử một người theo dõi cốp pha và cây chống. Thấy cốp pha phình, hở thì dừng đổ chỗ đó và gia cố ngay.
Có được thêm nước vào bê tông cho dễ đổ không
Không. Đây là lỗi rất hay gặp ở công trường nhà dân. Thêm nước làm bê tông dễ chảy hơn nhưng làm loãng hồ xi măng: bê tông yếu đi, dễ nứt co ngót, dễ rỗ mặt và thấm nước. Mẻ bê tông mác 250 thêm vài xô nước có thể không còn đạt mác 250, trong khi phiếu giao hàng vẫn ghi mác 250.
Nếu bê tông khó đổ, nguyên nhân thường là độ sụt đặt chưa hợp với cách đổ (ví dụ đặt độ sụt cho đổ xả nhưng lại đổ bơm). Cách đúng là báo trạm điều chỉnh, và lần sau đặt đúng độ sụt ngay từ đầu.

Không đổ hết một lần: mạch ngừng xử lý thế nào
Mạch ngừng là chỗ bê tông mới nối vào bê tông cũ đã bắt đầu đông cứng. Đây là chỗ yếu và dễ thấm, nên với móng, tốt nhất là đổ liên tục cho xong.
Bao lâu thì thành mạch ngừng phụ thuộc nhiệt độ và loại xi măng. Với bê tông không phụ gia, dùng xi măng poóc lăng, TCVN 4453 cho phép ngừng khoảng 60 phút khi bê tông trên 30 °C, 90 phút khi 20–30 °C [1]. Bê tông tươi có phụ gia chậm đông kết thì được lâu hơn: hỏi trạm thời gian cụ thể của mẻ. Trời nắng gắt ở miền Trung, bê tông se mặt rất nhanh, nên đừng trông vào giới hạn trên.
Nếu buộc phải dừng (mưa lớn, hỏng bơm, xe tới trễ):
- Dừng ở chỗ kỹ sư chỉ định, chỗ chịu lực nhỏ. Với móng băng, thường tránh chân cột và chỗ hai dải giao nhau.
- Đã ngừng quá thời gian cho phép thì phải chờ bê tông cũ đủ cứng mới đổ tiếp, không đổ chồng lên khi bê tông đang ninh kết dở.
- Trước khi đổ tiếp: đục bỏ lớp vữa yếu trên mặt, làm nhám, rửa sạch, tưới ẩm, rồi mới đổ bê tông mới lên và đầm kỹ chỗ nối.
Móng bè dày có phải lo nứt do nhiệt không
Với nhà dân thông thường thì không cần lo như công trình lớn. Bê tông khối lớn, loại phải tính toán chống nứt do nhiệt, thường là cấu kiện dày từ khoảng 1 m trở lên. Móng bè nhà 2–4 tầng thường mỏng hơn nhiều.
Nếu bản vẽ có móng dày cỡ 1 m trở lên, hoặc kỹ sư có ghi chú về nhiệt độ bê tông, thì làm theo phương án thi công riêng của thiết kế (chia lớp, phủ giữ nhiệt, đo nhiệt độ), và báo trạm biết khi đặt bê tông.
Đổ móng gặp mưa thì làm gì
Mưa nhỏ, đổ gần xong: che phủ bạt phần đã đổ và đổ tiếp cho xong. Mưa lớn: dừng đổ ở chỗ thích hợp như mục mạch ngừng ở trên, che phủ kín phần đã đổ, và hút nước đọng trong hố trước khi đổ tiếp. Không đổ bê tông xuống hố đang đọng nước mưa.
Cách tốt nhất vẫn là xem dự báo thời tiết trước khi chốt ngày với trạm, chuẩn bị sẵn bạt che.
Xem thêmĐổ bê tông trời mưa có sao không? Hướng dẫn xử lý chi tiết theo thời gian đông kết→Sau khi đổ móng
Đổ xong chưa phải là xong: móng cần được giữ ẩm, tháo cốp pha đúng lúc và kiểm lỗi trước khi làm tiếp phần trên.
Bảo dưỡng móng bao lâu ở Đà Nẵng và miền Trung
Bắt đầu giữ ẩm khi mặt bê tông đã se, không còn bị nước tưới làm trôi vữa. Phủ bao tải, vải địa kỹ thuật hoặc bạt rồi tưới ướt, giữ cho mặt móng và cốp pha luôn ẩm.

Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ) và Quảng Ngãi thuộc vùng khí hậu phía Đông Trường Sơn. Theo TCVN 8828 [5] về bảo dưỡng ẩm, thời gian giữ ẩm tối thiểu cho bê tông thông thường ở vùng này là:
| Trường hợp | Giữ ẩm tối thiểu |
|---|---|
| Mùa khô (khoảng tháng 2–7) | 4 ngày đêm |
| Mùa mưa | 2 ngày đêm |
| Xi măng có pha xỉ, puzolan, hoặc bê tông có phụ gia chậm đông kết | Cộng thêm 1 ngày đêm |
| Công trình trong vòng 1 km tính từ mép nước biển | Cộng thêm 1 ngày đêm, nếu thiết kế không ghi khác |
Đây là mức tối thiểu. Nắng gió mạnh thì tưới dày hơn trong 2–3 ngày đầu, đừng để mặt móng khô trắng giữa các lần tưới. Hướng dẫn chi tiết ở bài tiêu chuẩn bảo dưỡng bê tông TCVN 8828.
Bao lâu thì tháo cốp pha móng, bao lâu thì làm tiếp
Cốp pha thành móng chỉ giữ hình, không đỡ tải, nên tháo sớm được. Tháo khi bê tông đã đủ cứng để mặt và góc cạnh không bị sứt, bị dính theo cốp pha; trời ấm thường sau khoảng một ngày. Tháo nhẹ tay, rồi tiếp tục giữ ẩm cho mặt móng vừa lộ ra.
Đổ cổ cột, giằng móng, xây tường, lấp đất thì không có một con số chung cho mọi nhà. Thời điểm phụ thuộc vào mác, thời tiết, cách bảo dưỡng và tải sẽ đặt lên móng. Nguyên tắc:
- Trong những ngày đang bảo dưỡng ẩm, không chất vật liệu nặng, không cho xe hay máy chạy sát, không lấp đất đè lên móng.
- Lấp đất, xây tường hay chất tải lớn khi kỹ sư giám sát cho phép, dựa trên cường độ bê tông đã đạt.
Bảng thời gian tháo cho từng loại cốp pha ở bài tháo cốp pha: tiêu chuẩn và thời gian.
Sau khi tháo cốp pha: nhận biết móng bị lỗi
Đi một vòng quanh móng, nhìn kỹ góc, chân và mặt bên.
| Thấy gì | Thường do | Làm gì |
|---|---|---|
| Rỗ mặt nhỏ, nông, không thấy thép | Cốp pha hở một chút, đầm chưa tới góc | Đục sạch phần bở, vá bằng vữa xi măng |
| Rỗ sâu, thấy đá rời hoặc thấy thép | Mất nước xi măng, bê tông rơi cao, đầm sót | Hỏi kỹ sư trước khi vá |
| Thép lộ ra mặt | Thiếu con kê, thép xô lệch khi đổ | Hỏi kỹ sư |
| Vết nứt nhỏ như sợi tóc trên mặt | Mặt bê tông khô quá nhanh | Tăng giữ ẩm; ghi vị trí theo dõi |
| Vết nứt rộng, nứt xuyên, nứt kéo dài | Nhiều nguyên nhân | Hỏi kỹ sư ngay, chưa đổ, chưa xây tiếp |
Cách đánh giá và xử lý ở bài bê tông bị rỗ tổ ong và bê tông bị nứt.
Đổ móng bằng bê tông tươi hay trộn tay
Với móng băng, móng bè, hoặc móng đơn từ vài khối trở lên mà xe vào được, nên dùng bê tông tươi. Bê tông tươi trộn theo cấp phối ở trạm nên mác ổn định giữa các xe, đổ nhanh nên dễ đổ liên tục, và có phiếu giao hàng để đối chiếu. Trộn tay ngoài công trường thì cấp phối phụ thuộc người đong, đổ chậm nên dễ thành nhiều mạch ngừng.
Trộn tay chỉ hợp lý khi khối lượng rất nhỏ (ví dụ vài hố móng đơn nhỏ của một công trình phụ), hoặc khi xe bồn không vào được và không có cách đi ống bơm. So sánh đầy đủ ở bài nên đổ bê tông tươi hay bê tông trộn.
Đổ móng tốn bao nhiêu
Chi phí đổ móng gồm ba khoản chính: tiền bê tông, tiền bơm nếu hố móng xe bồn không xả tới được, và tiền nhân công đổ, đầm.
- Bê tông: bê tông tươi mác 250 của Dufago có giá tham khảo 1.685.000–1.785.000 đ/m³, đã bao gồm VAT, cập nhật 21/10/2026. Giá các mác khác và giá bơm xem ở bảng báo giá bê tông tươi.
- Nhân công: giá tham khảo thị trường khu vực cho đổ bê tông tươi hoặc đổ bơm khoảng 60.000–100.000 đ/m³, trong khi trộn và đổ thủ công khoảng 250.000–350.000 đ/m³. Chi tiết ở bài giá nhân công đổ 1 m³ bê tông.
Với móng ở ví dụ trên (khoảng 29 m³), muốn biết chính xác tiền bê tông và bơm thì gửi kích thước móng và ảnh lối vào để được báo giá theo công trình.
Đặt bê tông tươi và bơm cho móng nhà ở Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ) và Quảng Ngãi
Dufago cung cấp bê tông tươi và bơm bê tông (bơm cần, bơm ngang) cho công trình ở Đà Nẵng (gồm cả khu vực Quảng Nam cũ) và Quảng Ngãi. Dufago có chứng nhận sản phẩm bê tông thương phẩm phù hợp tiêu chuẩn quốc gia.
Để nhận báo giá bê tông và bơm cho móng nhà, gửi cho Dufago:
- vị trí công trình;
- loại móng và khối lượng (hoặc kích thước móng);
- mác và độ sụt;
- ngày giờ dự kiến đổ;
- có cần bơm không;
- đường vào cho xe (ảnh mặt tiền, độ rộng hẻm).
0402099824
Tầng 4, 76 – 78 Bạch Đằng, phường Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Tổ 33, phường Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng
Lô C20, Cụm Công nghiệp Thanh Vinh, phường Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng
Khu Công nghiệp và Hậu cần cảng Tam Hiệp, Xã Núi Thành, TP. Đà Nẵng
Lô CN 08 – KCN Tịnh Phong, Xã Thọ Phong, Tỉnh Quảng Ngãi














